Muốn có được một món Kim chi ngon thì cần phải làm từ 2 loại rau chính là cải thảo và từ củ cải. Người Hàn Quốc cũng đã cho rằng cải thảo mô tả cho nhân tố Dương, củ cải tả cho nguyên tố Âm. Và sự kết hợp của hai loại rau củ này trong món ăn được người Hàn coi là sự phối hợp của Âm- Dương. Sự phối hợp này có tác dụng kích thích khẩu vị của người ăn, cung cấp chất dinh dưỡng, giúp cho việc điều hoà cơ thể. Đi du học Hàn Quốc
Ngoài ra Kim chi vẫn còn là một món ăn có chứa nhiều chất dinh dưỡng. Ở một vài những địa phương, người Hàn Quốc cũng làm Kim chi còn cho thêm mắm cá hay mắm tôm, chính vì thế Kim chi có một hàm lượng chất prôtêin cơ bản cộng với những loại khoáng vật có trong muối; chất xơ có trong rau củ; những loại chất khác có ở trong các gia vị như tỏi, gừng, hành v.V…
Theo số liệu thống kê thì món ăn Kim chi có khoảng chừng 200 loại khác nhau. Vật liệu để làm món ăn này rất phong phú, đó là những loại rau, củ và cả hải sản nữa. Tuỳ theo từng gia đình, từng địa phương mà có những gia vị kèm theo để làm cho món Kim chi sẽ khác nhau, tuỳ theo mùa vụ mà những nguyên liệu làm Kim chi cũng sẽ rất khác nhau. Visa du học Hàn Quốc
Nói chung thì phụ thuộc vào phong tục tập quán, môi trường thọ hoạt của từng địa phương thì Kim chi sẽ có hương vị khác nhau và có nhiều loại Kim chi. Do đó, mặc dầu phong phú và đa dạng về thể loại (khoảng 200 loại Kim chi khác nhau) nhưng tuốt tuột đều thống nhất dưới tên gọi Kim Chi. Người Hàn Quốc dựa trên nguyên lý hợp nhất này để gọi tên Kim chi theo vật liệu hoặc theo tên địa phương làm ra nó. Như cứ vào vật liệu chính và phụ, phong cách làm, bảo quàn .V.V… thì người Hàn Quốc đã liệt kê được khoảng 11 loại Kim chi Pechu (Kim chi cải thảo), 21 loại Kim chi Mu u (Kim chi củ cải), 80 loại Kim chi Namul (Kim chi làm từ các loại rau có mầu xanh), 16 loại Kim chi Cacttugi (Kim chi bằng các loại củ được cắt như hình con cờ), 10 loại Kim chi Dongchimi (Kim chi làm bằng củ cải để nguyên cả củ), 19 loại Mul Kim chi (Kim chi nước) và khoảng 46 loại Kim chi khác. Cứ vào cách làm của từng địa phương thì Kim chi cũng có những tên gọi như sau: Kiểu Kim chi Kyong Sang Do (Kim chi của vùng Đông Nam Hàn Quốc), Kim Chi Ham Kyong Do (Kim chi Bắc Triều Tiên), Kim chi Cheon La Do (Kim chi vùng Tây Nam). Cách gọi tên theo nguyên liệu làm Kim chi cho thấy Kim Chi đã hàm chứa một nội dung văn hoá thích nghi rộng rãi sâu sắc của văn hoá ẩm thực Hàn Quốc. Còn cách gọi tên Kim chi theo địa phương đã trở thành một trong những tiêu chuẩn để phân biệt văn hoá vùng này với văn hoá vùng khác trên cương vực Hàn Quốc. Đây là một nét văn hoá đặc sắc của Hàn Quốc vì nếu ăn Kim Chi thì người Hàn Quốc có thể biết bược quê hương của người làm Kim chi ở đâu cho dù người đó đã có nhiều đổi thay. Có thể nói rằng giá trị văn hoá của Kim chi được diễn tả trước tiên ở trong văn hoá ẩm thực của người Hàn cũng giống các món ăn phương Đông khác, Kim chi cũng là một vị thuốc dân gian giúp cơ thể con người ăn ngon, lợi tiểu, nhuận tràng, tiêu hoá tốt nhờ các nguyên liệu làm Kim chi như cải thảo (nhiều nước) kết hợp với tỏi, ớt, hành (kích thích khẩu vị) và tác dụng của một số vật liệu khác. Đây là một nét đặc sắc chẳng những của Kim chi mà còn là nét chung của các món ăn Châu Á.
Kim chi ngoài việc sử dụng để làm món ăn trong các bữa ăn hàng ngày thì nó còn là một vật liệu để chế biến một số món ăn khác của Hàn Quốc như : Kim chi nấu với thịt lợn kèm với một số gia vị khác mà Hàn Quốc gọi là Kim chi Chige hoặc người Hàn Quốc băm nhỏ Kim chi trộn với bột mì và cho thêm hải sản (mực, tôm) rồi mang rán thành bánh gọi là Kim chi Puchimge cũng rất ngon. Khi Kim chi dùng để làm vật liệu chế biến món ăn thì Kim chi phải chua hơn. Chi phí dụ học Hàn Quốc
Kim chi đối với người Hàn Quốc ngoài ý nghĩa là văn hoá ẩm thực còn mang một ý nghĩa khác đó là sự tiếp cận với văn hoá giao thiệp. Đây là một nét văn hoá khôn cùng độc đáo của Hàn Quốc và được biểu lộ ở ba góc cạnh, Kim chi dùng làm quà để biếu tặng nhau; Dậy cách làm Kim chi để hỏi vợ; Các gia đình luân phiên nhau để làm Kim chi nhằm tạo ra mối liên kết cộng đồng chém đẹp.
Thứ nhất : Kim chi dùng để làm quà biếu nhau để tạo nên sự thân mật giữa mọi người. Kim chi được người Hàn Quốc dùng làm quà tặng nhau đã trở nên “một tượng trưng cho mối giao tình” (từ dùng của TS Lý Sơn Nhi). Người tặng Kim chi muốn duyệt y Kim chi để gửi tặng tình cảm của mình cho người nhận và người nhận Kim chi đón nhận tình cảm thân thiện đó duyệt việc nhận Kim chi. Ngoại giả, người Hàn Quốc còn mời nhau tới nhà để thưởng thức Kim chi do chính chủ nhà làm ra. Điều này biểu thị một khía cạnh rất hay trong văn hoá ứng xử của Hàn Quốc. Ưng chuẩn đó khách và gia chủ càng thắt chặt thêm mối thân mật có từ trước.
Thứ hai : Dậy cách làm Kim chi để hỏi vợ, ở góc độ này Kim chi trở nên một nội dung kiến thức. Mặc dù Kim chi là một món ăn bình dị, quen thuộc của người Hàn Quốc nhưng không phải ai cũng làm được vì nguyên tắc làm Kim Chi rất chặt chịa và phải tuân đúng các quy trình chế biến, bảo quản. Đồng thời không phải bất cứ loại Kim chi nào cũng có thể ăn với bất kỳ một loại thức ăn khác v.V… Do đó, không phải người nữ giới nào cũng có đủ khả năng để làm Kim chi. Chính vì những lý do trên mà nữ giới Hàn Quốc đã phải học hỏi lẫn nhau, cùng nhau làm Kim chi, cùng nhau thưởng thức Kim chi, cùng nhau rút ra những tri thức kinh nghiệm để làm Kim chi. Tuốt tuột những sinh hoạt trên dần dần trở thành một nếp, một nếp trong cuộc sống của người Hàn Quốc và rất thiên nhiên- thói quen này đã trở nên một hành động giao tế chẳng thể thiếu được trong đời sống của người Hàn Quốc.
Thứ ba : “Ở góc độ ứng xử này thì Kim chi đã trở thành một hoạt động mang tính đổi công, luân phiên nhau một cách hoàn toàn tình nguyện, vui vẻ giữa các gia đình nhằm thắt chặt hơn tính cộng đồng trong từng lớp Hàn Quốc” .
Hàng năm, vào cuối mùa thu khi mà thời tiết bắt đầu trở lên lạnh hơn thì các gia đình Hàn Quốc bắt đầu muối Kim chi với một số lượng rất nhiều để chuẩn bị thức ăn cho mùa đông. Thời gian muối Kim chi với một số lượng lớn để dự trữ cho mùa đông được gọi là mùa Kimjang. Theo truyền thống, Kimjang là sự kiện được diễn ra hàng năm ở Hàn Quốc. Bây chừ đã có nhà kính để trồng rau phục vụ cho nhu cầu của người dân về mùa đông nhưng Kimjang vẫn diễn ra. Trong mùa làm Kimjang, mỗi gia đình lớn ở Hàn Quốc phải sử dụng tới 200 cây cải thảo và rất nhiều gia vị khác kèm theo, thành ra các gia đình Hàn Quốc đã viện trợ nhau làm Kimjang. Ở Hàn Quốc vào mùa làm Kimjang rất hiếm khi thấy một gia đình làm riêng lẻ, chơ vơ mà thường thì các đàn bà Hàn Quốc tập trung lại để làm Kimjang cho một nhà sau đó lại chuyển sang làm cho một nhà khác và cứ lần lượt như thế cho đến hết. Với hình thức này thì làm Kimjang không phải là một công việc đơn thuần nữa mà nó nghe đâu đã trở thành một ngày hội trong cuộc sống của người Hàn Quốc. Ở đó mọi người vừa làm Kimjang vừa có dịp để họp mặt chuyện trò, đàm luận mọi vấn đề với nhau và từ đó tình cảm giữa gia đình này với gia đình khác được nhân lên và trên hết công việc làm Kimjang còn có ý nghĩa liên kết, gắn kết mọi người với nhau trong một cộng đồng. Sau khi làm xong, người Hàn Quốc còn tặng nhau Kim Chi- thành quả vừa làm- để cùng nhau chia xẻ thành quả lao động và để thắt chặt hơn tình cảm của cộng đồng. Trên đây là 3 phương diện, 3 ý nghĩa rất độc đáo và tế nhị trong giao dịch của người Hàn Quốc. Và giới nghiên cứu đã đồng ý với ý kiến “Kim chi đã vượt qua giới hạn của một loại thực phẩm bình thường để tiến tới hình thành một xâu chuỗi: Kim chi - Món ăn - Bài thuốc - ứng xử Kim chi! Và như vậy đã không đơn giản là một phạm trù sinh hoạt thường ngày mà đã trở thành một đặc sắc độc đáo trong văn hoá ẩm thực Hàn Quốc nói riêng và hơn thế nữa- Một đặc sắc độc đáo trong tổng thể văn hoá Hàn Quốc nói chung” .
Với bít tất những ý nghĩa đã nêu ở trên thì Kim chi đã từ lâu và cũng rất thiên nhiên trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của đàn bà ở Hàn Quốc. Theo tiêu chuẩn truyền thống của Hàn Quốc (cũng như của các nước phương Đông khác) thì người phụ nữ phải biết chăm lo, quán xuyến gia đình. Họ phải đảm trách vai trò là một người nội trợ giỏi và vấn đề ẩm thực đã trở nên nhiệm vụ của họ trong gia đình cũng như trong cộng đồng của họ. Do vậy, Kim chi cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá xem người nữ giới đó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt hay không tốt. Ở Hàn Quốc, chuẩn y Kim chi người ta có thể đánh giá được năng lực của người đàn bà. Có nghĩa là trong “tứ đức”, sẽ đánh giá được chữ “Công” của người nữ giới đó là như thế nào. Tại sao lại có tiêu chí vậy ? bởi, làm Kim chi đòi hỏi ở người nữ giới những năng lực như năng lực chịu thương chịu khó, chuyên cần, tằn tiện v.V… Vì khi làm Kim chi, phụ nữ phải tiếp xúc trực tiếp với các gia vị cay nóng mạnh như ớt, hành, tỏi… (ngày nay thì đàn bà có bít tất tay cao su) nhưng còn mắt, mũi… thì không có cách gì bảo vệ cho họ được.
Tuy nhiên, trong quá khứ thì nữ giới Hàn Quốc làm gì có bao tay? Họ phải trực tiếp xúc tiếp với những gia vị đó và phải chịu đựng nó. Thêm vào đó là công việc làm Kim chi là phải làm cả ngày do đó nữ giới Hàn Quốc ép phải đoàn luyện tính chịu đựng và tính kiên trì cho mình. Ngoại giả khi làm Kim chi người nữ giới còn tự rèn luyện cho mình tính sáng tạo để tự thể hiện bản sắc cá nhân chủ nghĩa hay cá tính của mình. Làm Kim chi là một thử thách đối với phụ nữ Hàn Quốc. Ở đó người nữ giới có thể diễn đạt được bản lĩnh của mình để tạo ra một sản phẩm hoàn hảo. Họ phải tuân theo các nguyên tắc làm Kim chi theo kiểu truyền thống và không được sai những nguyên tắc đó. Nhưng Kim Chi luôn mở ra cho họ một khả năng vận dụng cao và tuốt luốt chỉ nhằm vào một yêu cầu đó là Kim chi không được hỏng.
Thông qua việc ăn Kim chi (thậm chí ưng chuẩn việc ngửi hơi của Kim chi) người ta có thể biết được, tưởng tượng được chủ nhân của nó là người như thế nào. Nên chi khi làm Kim chi, người nữ giới Hàn Quốc đã biểu thị được năng lực của mình, cá tính của mình, bản sắc của mình. Hiện tại, phụ nữ Hàn Quốc dự công việc tầng lớp nhiều nên không có thời kì làm Kim Chi, vì vậy nhiều nhà máy sản xuất Kim chi đã được thành lập và sản phẩm Kim chi đó cũng rất ngon do đó mà người Hàn Quốc có thể ưng được. Tuy nhiên, ở nông thôn thì phần lớn phụ nữ vẫn làm Kim chi và khi mùa Kimjang đến thì chúng ta có thể thấy rất nhiều vại Kim chi được đem trôn xuống đất để dự trữ cho mùa đông. Ở tỉnh thành thỉnh thoảng cũng bắt gặp một gia đình phơi các vại Kim chi ra nắng ở ban công nhà.
Vơ trở thành thân thuộc với người dân Hàn Quốc và gắn bó với người dân Hàn Quốc, cho dù tầng lớp Hàn Quốc đang hiện đại hơn. &Ldquo;Cách dễ nhất và thích nhất để bước vào một nền văn hoá mới là nếm các món ăn của nó” . Các bạn có thể không biết tổ quốc đó do ai lãnh đạo, giang sơn đó tình hình như thế nào nhưng các bạn có thể nhớ được tên các món ăn nức tiếng của sơn hà ấy và từ đó chúng ta sẽ có những đồng cảm về mặt văn hoá. Vậy thì, khi nói tới Hàn Quốc vững chắc các bạn nghĩ đến Kim Chi - món ăn tiêu biểu của người Hàn Quốc - và chắc hẳn khi được thưởng thức thì các bạn không quên được hương vị của nó: Cay- chua là tiêu biểu.
Người Hàn Quốc ngày nay làm Kim chi, ăn Kim chi không phải chỉ để toại nguyện về thú vui ẩm thực mà hình như không mấy thích Kim chi, có nhiều nhà máy sản xuất Kim chi xuất hiện nhưng không phải cho nên mà Kim chi với những phẩm chất truyền thống mất đi. Đối với người Hàn Quốc nói chung và đối với người đàn bà nói riêng thì họ sẵn sàng chịu khó nhọc để làm ra Kim chi- sản phẩm do chính bàn tay mình làm ra- Và người Hàn Quốc cũng tự hào vì hiện thời Kim chi đã vượt ra khỏi biên giới Hàn Quốc để đi tới quờ các nước trên thế giới, đến bất cứ nơi đâu. Song song với sự mở mang ấy, Kim chi sẽ là một sợi dây kết liên, tạo ra những đồng cảm trong lòng mọi người. Món ăn cựu truyền này được yêu thích đến nỗi tại Seoul đã lập một Bảo tàng Kim chi- độc nhất vô nhị. Đây là bảo tồn giới thiệu về lịch sử hình thành Kim Chi, những kiến thức và những truyền thuyết về Kim chi cũng như cách thức chế biến Kim chi như thế nào là ngon nhất. Nếu các bạn đến Hàn Quốc thì xin mời ghé qua Bảo tàng này một lần để thấy được người Hàn Quốc đã giữ giàng, bảo tàng và giới thiệu cho bạn bè thế giới như thế nào về một nét văn hoá độc đáo của Hàn Quốc - Kim Chi.
INFORMATION